xóa án tích theo bộ luật hình sự

3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích. Điều 72. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015. TS. PHẠM MINH TUYÊN (Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh) - Xóa án tích là một chế định quan trọng, cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện nguyên tắc nhân đạo, dân chủ xã hội chủ nghĩa và tôn trọng quyền con người. Với chế định này, Nhà nước ta đã ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội nhằm xóa bỏ đi quá khứ Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015, mặc dù đến nay thời điểm có hiệu lực thi hành của Bộ luật đang tạm lùi lại, nhưng với những chỉ đạo của Quốc hội tại Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016, thì những quy định có lợi cho người Thứ nhất, ý nghĩa của việc xóa án tích. Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) quy định: "Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án". Như vậy, một người bị kết án hình sự đã được xóa án tích thì họ Khái niệm xóa án tích theo điều 63 trong bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 được hiểu là "Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được tòa án cấp giấy chứng nhận". Bộ luật Hình sự hiện hành chia ra các trường hợp xóa án tích đương nhiên materi b jawa kelas 11 semester 2. Chào chị, Ban Biên tập xin giải đáp thắc mắc của chị như sau1. Án tích là gì?Án tích là một thuật ngữ không được định nghĩa rõ trong quy định pháp luật hình sự. Tuy nhiên, theo các quy định pháp luật liên quan thì có thể định nghĩa án tích là đặc điểm xấu hậu quả về nhân thân của người bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi và lưu lại trong lí lịch tư pháp trong thời gian luật định. Khi người phạm tội đã bị tòa tuyên án hình phạt thì hậu quả pháp lý mà họ phải chịu không chỉ là việc phải chấp hành hình phạt đó mà còn bị coi là có án tích - đặc điểm đó trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội cũng như khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi phạm tội. Án tích không phải là đặc điểm về nhân thân có tính vĩnh viễn. Sau một thời gian và kèm theo điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật, án tích sẽ được Xóa án tích? Trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích?Người bị kết án về hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi chấp hành xong hình phạt tù và trải qua thời gian thử thách thì được xóa án quy đinh tại khoản 1 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người được xóa án tích thì coi như chưa bị kết hợp người bị kết án không bị coi là có án tíchTại Khoản 2 Điều 69 và Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. Cụ thể- Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng;- Người được miễn hình phạt;- Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì;- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;- Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo Các trường hợp được xóa án tích?Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 03 trường hợp được xóa án tích bao gồm Đương nhiên được xóa án tích; Xóa án tích theo quyết định của Tòa án; Xóa án tích trong trường hợp đặc Đương nhiên được xóa án tíchTheo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, các trường hợp đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích gồm- Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 Bộ luật Hình Người bị kết án được xóa án tích trong trường hợp từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;+ 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ Người bị kết án được xóa án tích, trong trường hợp từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình Xóa án tích theo quyết định của Tòa ánĐiều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các trường hợp đủ điều kiện xóa án tích theo quyết định của Toà án gồm- Xóa án tích theo quyết định của Toà án được áp dụng với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 71 Bộ luật Hình sự năm án quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật Hình sự, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây+ 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm;+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;+ 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a khoản 2 Điều 71 Bộ luật Hình sự thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật Hình Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án Xóa án tích trong trường hợp đặc biệtTrường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Hình sự năm 2015.*Trường hợp xóa án tích với người phạm tội dưới 18 tuổi- Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;+ Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương XII Bộ luật Hình Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội trọng!Đây là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email info 03/03/2018 71339 Print Xóa án tích cho người bị kết án là một trong những nội dung quan trọng của Luật Hình sự Việt Nam. Đây là một trong những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị kết án vì trong một số trường hợp nếu người phạm tội đã bị kết án, […] Xóa án tích cho người bị kết án là một trong những nội dung quan trọng của Luật Hình sự Việt Nam. Đây là một trong những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị kết án vì trong một số trường hợp nếu người phạm tội đã bị kết án, thuộc trường hợp có án tích nhưng chưa được xóa là một trong những cơ sở để định tội; để xem xét tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt trong một số tội phạm hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích, nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định để làm ăn, sinh sống. Cụ thể – Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015 đã điều chỉnh định nghĩa về người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và bỏ đi quy định về việc phải “được Tòa án cấp giấy chứng nhận” như trong BLHS trước đây. Với quy định mới này, BLHS năm 2015 đã giải quyết được những khó khăn đối với người chấp hành xong bản án; rút bớt các thủ tục, đồng thời chuyển trách nhiệm cập nhật thông tin về án tích của người bị kết án sang cho các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp khoản 4 Điều 70 – Khoản 2 Điều 69 và Điều 107 quy định rõ 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. Đó là 1 Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; 2 Người được miễn hình phạt; 3 Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; 4 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; 5 Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Như vậy, Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi đối tượng xác định mang án tích so với trước đây. Theo đó, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ khi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và bị áp dụng hình phạt mới phải mang án tích và đối với họ được áp dụng hình thức xóa án tích đương nhiên. Đối với người đã thành niên thì họ phải mang án tích trong trường hợp bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị kết án do lỗi cố ý về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng. – Khoản 2 Điều 70 quy định giữ nguyên thời hạn 01 năm để được xóa án tích đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; nhưng rút ngắn thời hạn để được xóa án tích theo hướng còn 02 năm đối với trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm và 05 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Đồng thời, quy định rõ hơn đối với trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xoá án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn a 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; d 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm Khoản 2 Điều 107. – Thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Đây là quy định mới và có lợi người cho người bị kết án trong cách tính thời hạn xóa án tích trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vì theo quy định trước đây thì thời hạn xóa án tích được tính khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Ngoài ra, trong thời hạn xóa án tích thì người bị kết án không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Tội phạm mới này có thể là bất kỳ loại tội phạm nào cũng như có thể được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Nếu như người bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015. – Xóa án tích theo quyết định của Tòa án Điều 71 được áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện + Tòa án quyết định xóa án tích căn cứ vào tính chất tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án. + Thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa án được xác định là từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn a 01 năm nếu bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 05 năm nếu bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm, d 07 năm nếu bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn trên thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đối với trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích. – Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Điều 72 người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật hình sự 2015. Chu Văn Quang/ Một người bị kết án hình sự đã được xóa án tích thì họ sẽ không phải gánh chịu hậu quả của việc từng bị kết án mang lại. Án tích là hậu quả pháp lý về nhân thân của người bị kết án và áp dụng hình phạt được lưu lại trong lý lịch tư pháp. Khi một người bị tuyên án hình sự thì hậu quả mà người đó phải gánh chịu không chỉ là hình phạt trong Bản án mà người đó còn bị coi là có án tích trong lý lịch tư pháp. Người có án tích sẽ bị hạn chế về quyền lợi so với những người không có án tích. Tuy nhiên, án tích không phải là đặc điểm về nhân thân có tính vĩnh viễn, sau khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật thì án tích sẽ được xóa. Khi đó người đã xóa án tích được coi như chưa bị kết nhất, ý nghĩa của việc xóa án tíchi Về mặt pháp lý Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự quy định “Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”. Như vậy, một người bị kết án hình sự đã được xóa án tích thì họ sẽ không phải gánh chịu hậu quả của việc từng bị kết án mang lại. Nghĩa là, sau khi xóa án tích, họ trở thành người bình thường về mặt tư pháp và họ không bị hạn chế về quyền lợi do đã từng bị kết án. Khi một người đã được xóa án tích thì Tòa án sẽ không căn cứ vào tiền án đã được xóa để xác định là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.ii Về mặt xã hội Xóa án tích là một việc làm thể hiện tính nhân văn của nhà nước đối với những người đã bị kết án hình sự, tạo điều kiện cho họ làm lại cuộc đời, giúp họ hòa nhập với cộng đồng, thay đổi bản thân để cống hiến cho xã hai, các trường hợp được xóa án tíchi Đương nhiên được xóa án tích Bộ luật Hình sựNgười bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh được quy định trong Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo, hình phạt bổ sung hoặc hết thời hiệu thi hành bản án mà không thực hiện hành vi phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích trong thời hạn sau01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm đủ các điều kiện nêu trên và có yêu cầu thì Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích đối với người đương nhiên được xóa án tích.ii Xóa án tích theo quyết định của Tòa án Điều 71 Bộ luật Hình sựNgười bị kết án về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh được quy định trong Bộ luật hình sự. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án mà không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.iii Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Điều 72 Bộ luật hình sựTòa án có thể quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Trong trường hợp này, người bị kết án phải thỏa mãn điều kiện có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị.iv Xóa án tích đối với pháp nhân thương mại Điều 89 Bộ luật Hình sựPháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội ba, trình tự, thủ tục xóa án tíchNhững người bị kết án, nếu đủ điều kiện xóa án tích thì nộp hồ sơ xin xác nhận xóa án tích tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm, hồ sơ gồmĐơn xin xóa án tíchCác tài liệu như giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam; giấy xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khoản bồi thường, án phí, tiền phạt, truy thu; giấy chứng nhận không phạm tội mới do Công an Quận, Huyện nơi người bị kết án thường trú sao hộ khẩu;Bản sao chứng minh nhân với xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, ngoài các lọai tài liệu như trên, phải có văn bản đề nghị của chính quyền, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án thường trú, công khi nhận hồ sơ, Tòa án kiểm tra nếu thấy hồ sơ đầy đủ và hợp lệ thì sẽ cấp giấy chứng nhận hoặc ra Quyết định xóa án tích đối với người bị kết xin xóa án tích không phải nộp bất kỳ khoản phí nào cho Tòa sư Nguyễn Thị Phương Hoa - Phòng tranh tụng của Công ty Luật TNHH EverestXem thêmGiới thiệu về Công ty Luật TNHH EverestDịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH EverestHoạt động vì cộng đồng của Công ty Luật TNHH EverestKhuyến nghị của Công ty Luật TNHH EverestBài viết trong lĩnh vực hình sự nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật1900 6198, E-mail[email protected]. Như chúng ta đã biết thì xoá án tích là xoá bỏ việc mang án tích. Hoặc bạn cũng có thể hiểu đơn giản đó là sự công nhận coi như chưa bị kết án đối với người trước đó đã bị toà án xét xử và kết tội. Bài viết dưới đây Luật tố tụng sẽ làm rõ khái niệm xóa án tích cũng như là phân tích rõ các trường hợp xoá án tích cùng các vấn đề khác liên quan. Hãy cùng theo dõi bài viết ngay sau đây để có cái nhìn tổng quan nhé Xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự Xoá án tích là gì?Các trường hợp được xoá án tíchTrường hợp không bị coi là có án tíchXóa án tích trong trường hợp đặc biệtTrường hợp xóa án tích đối với người phạm tội dưới 18 tuổiThủ tục xóa án tíchKhuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Xoá án tích là gì? Xoá án tích được xem như là một chế định của luật hình sự với nội dung xác định điều kiện cũng như là trình tự xoá bỏ việc mang án tích. Với việc được xoá án tích thì người đã bị kết án sẽ được xem như chưa can án. Như vậy sẽ không còn cơ sở để xác định tái phạm hoặc là tái phạm nguy hiểm nếu họ phạm tội lại. Các trường hợp được xoá án tích Dưới đây là một vài trường hợp được xoá án tích mà mọi người nên biết để có cái nhìn chi tiết nhất Trường hợp không bị coi là có án tích Theo Bộ Luật Hình Sự khoản 2 Điều 69 quy định như sau Người bị kết án do có lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc là tội phạm nghiêm trọng và người được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không bị coi là có án tích Như vậy, theo Bộ Luật Hình Sự năm 2015 coi các trường hợp sau đây là trường hợp đã bị kết án nhưng không bị coi là có án tích như sau i Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc có thể là tội phạm nghiêm trọng, ii Những người được miễn hình phạt. . Xét về lý thuyết thì người đã bị kết án thì chắc chắn phải mang án tích. Tuy nhiên nếu việc đã bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc là tội phạm nghiêm trọng hay được miễn hình phạt đều gây án tích cho người bị kết án. Vì thế mà theo Điều 69 Bộ Luật Hình Sự, họ được xóa án tích ngay cho nên không bị coi là có án tích. Mọi người có thể gọi trường hợp này là được xóa án tích ngay sau khi tuyên án kết tội. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Trong trường hợp để có thể xoá được án tích thì người bị kết án có những biểu hiện cũng như tiến bộ rõ rệt và đã lập công. Như vậy sẽ được cơ quan cùng với các tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án mới có thể quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Hình sự quy định. Bạn đọc có thể xem thêm hoãn chấp hành án phạt tù Trường hợp xóa án tích đối với người phạm tội dưới 18 tuổi Người dưới 18 tuổi bị kết án được xem là không có án tích nếu như thuộc một trong những trường hợp dưới đây i Xoá án tích đối với những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. ii Là những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc là tội phạm nghiêm trọng cũng như tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; iii Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 của chương XII Bộ luật Hình sự. – Những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì chắc chắn sẽ được xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới chẳng hạn. Thủ tục xóa án tích Dưới đây là thủ tục xoá án tích mới nhất được Bộ Luật Hình Sự quy định mọi người hãy cùng tham khảo nhé i Trong thời hạn 05 ngày bắt đầu từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích cũng như xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự. Lúc này các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích. Thủ tục xóa án tích ii Những trường hợp được quy định tại Điều 71 cũng như Điều 72 của Bộ luật hình sự thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Tuy nhiên người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của chính quyền xã và phường, thị trấn nơi mà họ cư trú hoặc là đến cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc cũng như học tập. iii Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được đơn của người bị kết án thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đặc biệt là trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến thì Viện kiểm sát cùng cấp sẽ có ý kiến bằng văn bản sau đó sẽ chuyển lại tài liệu cho Tòa án. iv Tuy nhiên trường hợp nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến cho Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích. Những trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác bỏ đơn xin xóa án tích. v Bên cạnh đó trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày đưa ra quyết định xóa án tích hoặc là quyết định bác đơn xin xóa án tích thì Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp cũng như là chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập…chẳng hạn. Xem thêm về cải tạo không giam giữ Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Bài viết trong được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail info - Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng mở rộng đối tượng được xóa án tích hoặc được coi là chưa có án tích; nhân đạo, khoan hồng đối với người bị kết án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định để làm ăn, sinh sống. – Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 2015 đã điều chỉnh định nghĩa về người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và bỏ đi quy định về việc phải “được Tòa án cấp giấy chứng nhận” như trong BLHS trước đây. Với quy định mới này, BLHS năm 2015 đã giải quyết được những khó khăn đối với người chấp hành xong bản án; rút bớt các thủ tục, đồng thời chuyển trách nhiệm cập nhật thông tin về án tích của người bị kết án sang cho các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp khoản 4 Điều 70 – Khoản 2 Điều 69 và Điều 107 quy định rõ 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. Đó là 1 Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; 2 Người được miễn hình phạt; 3 Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; 4 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; 5 Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Như vậy, Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi đối tượng xác định mang án tích so với trước đây. Theo đó, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ khi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và bị áp dụng hình phạt mới phải mang án tích và đối với họ được áp dụng hình thức xóa án tích đương nhiên. Đối với người đã thành niên thì họ phải mang án tích trong trường hợp bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị kết án do lỗi cố ý về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng. – Khoản 2 Điều 70 quy định giữ nguyên thời hạn 01 năm để được xóa án tích đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; nhưng rút ngắn thời hạn để được xóa án tích theo hướng còn 02 năm đối với trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm và 05 năm đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Đồng thời, quy định rõ hơn đối với trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xoá án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn a 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; d 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm Khoản 2 Điều 107. – Thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Đây là quy định mới và có lợi người cho người bị kết án trong cách tính thời hạn xóa án tích trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vì theo quy định trước đây thì thời hạn xóa án tích được tính khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Ngoài ra, trong thời hạn xóa án tích thì người bị kết án không được thực hiện hành vi phạm tội mới. Tội phạm mới này có thể là bất kỳ loại tội phạm nào cũng như có thể được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Nếu như người bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015. – Xóa án tích theo quyết định của Tòa án Điều 71 được áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện + Tòa án quyết định xóa án tích căn cứ vào tính chất tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án. + Thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa án được xác định là từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn a 01 năm nếu bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; b 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; c 05 năm nếu bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm, d 07 năm nếu bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn trên thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đối với trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích. – Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Điều 72 người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật hình sự 2015. Theo

xóa án tích theo bộ luật hình sự